Hotline: 0941068156
Quảng cáo
Tin Nóng

Mở bể than sông Hồng: Đừng khai thác bằng mọi giá

05 Tháng Mười Hai 2018 6:56:00 SA

Moitruong24h – Mới đây, Liên hiệp các hội KHKT Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức Hội thảo Đánh giá tiềm năng khai thác và sử dụng bể than đồng bằng sông Hồng.

Khai thác vô cùng khó khăn

Phát biểu đề dẫn hội thảo, TS Phan Tùng Mậu, Phó Chủ tịch VUSTA cho biết, những vấn đề quan trọng rất cần xin ý kiến của các nhà khoa học xung quanh bể than sông Hồng, đó là: Bể than có trữ lượng bao nhiêu? Có nên đánh giá toàn bộ trữ lượng mỏ than, hay trên cơ sở hiện tại đánh giá theo từng vùng, từ đó đề xuất thời gian tới khai thác thế nào.

Trên cơ sở vật chất, công nghệ khai thác, điều kiện của Việt Nam hiện nay, việc khai thác thế nào là hợp lý? Nếu khai thác thì sử dụng công nghệ nào là hợp lý? Các vấn đề tác động đến môi trường (môi trường nước ngầm, nước mặt và các môi trường khác...), xã hội, an ninh như thế nào khi khai thác mỏ than...

Tại hội thảo, các vị đại biểu đều thống nhất bể than sông Hồng có điều kiện địa chất hết sức phức tạp cho việc khai thác, lại nằm trong vùng rất nhạy cảm về môi trường, xã hội và có nhiều tài nguyên nhiên, văn hóa, nhất là tài nguyên nước và đất nông nghiệp.

Theo TS Đào Văn Thịnh, Viện Địa chất và Môi trường, Tổng hội Địa chất Việt Nam, các đề án nghiên cứu cho thấy bể than sông Hồng có tiềm năng tài nguyên than rất cao (cao nhất Việt Nam).

Nếu tính đến độ sâu -3.500m thì tổng tài nguyên than đạt 210 tỷ tấn, gấp 20 lần bể than Quảng Ninh được chia thành 8 vùng tài nguyên than.

Tuy nhiên, tiềm năng tài nguyên và trữ lượng có khả năng khai thác thực tế hoàn toàn khác nhau. Dẫn đánh giá của một số chuyên gia, ông Thịnh cho hay, trữ lượng than có thể khai thác của bể than sông Hồng khoảng 30-40 tỷ tấn.

Vấn đề mở bể than sông Hồng được các nhà khoa học, nhà quản lý và nhân dân quan tâm. Ảnh minh họa

Vị chuyên gia nhận định, việc khai thác than ĐBSH là rất khó khăn bởi các yếu tố:

Điều kiện địa chất-mỏ, địa chất công trình, địa chất thủy văn, kiến tạo, địa chấn của bể than rất phức tạp, nguy cơ xảy ra các rủi ro khi khai thác than ở dưới sâu. Than có mặt ở độ sâu quá cao, đa số các vỉa than nằm ở khoảng độ sâu từ -300m đến -1.200m, độ sâu tối đa đạt trên 3.000m. Đá vách, đá trụ của các vỉa than mềm yếu, có sức bền cơ lý kém.

Trên phạm vi bể than sông Hồng có các đứt gãy kiến tạo cỡ khu vực chạy qua và đa số chúng là các đứt gãy đang hoạt động, đứt gãy sinh chấn, gồm đứt gãy sông Hồng, sông Chảy, sông Lô, Vĩnh Ninh.

Các đứt gãy đang hoạt động rất nguy hiểm vì chúng có thể gây ra động đất, trượt đất, nứt đất... ảnh hưởng tới độ vững bền của đất đá, tác động tới các công trình xây dựng, gây hư hại tới độ vững bền của đất đá, tác động tới các công trình hạ tầng cơ sở, các công trình  ngầm, tạo ra khe nứt cho nước ngầm ngấm vào các công trình ngầm, trong đó có các công trình khai thác khoán sản ở dưới sâu bằng phương pháp hầm lò.

Đặc điểm địa chấn cũng ảnh hưởng tới độ vững bền của nền địa chất. Diện tích bể than sông Hồng nằm trong vùng có nguy cơ ảnh hưởng bởi động đất.

Bên cạnh đó, bể than sông Hồng nằm trong vùng rất nhạy cảm về môi trường và xã hội (vùng đông dân cư có tập quán canh tác lúa nước; có nhiều khu đô thị đóng vai trò các trung tâm chính trị-kinh tế-văn hóa-xã hội vô cùng quan trọng; nhiều khu công nghiệp, các công trình hạ tầng cơ sở, đang phát triển mạnh và đô thị hóa mạnh...).

Thừa nhận hiệu quả kinh tế của việc khai thác bể than sông Hồng rất khó xác định cụ thể, TS Đào Văn Thịnh nhấn mạnh, nếu khai thác bể than sông Hồng theo các công nghệ như đề cập trong Quy hoạch, nhất là phương pháp hầm lò truyền thống sẽ có nguy cơ xảy ra những sự cố môi trường và tai biến địa chất gây tác động tiêu cực tới môi trường và xã hội.

Chẳng hạn sụt lún địa hình, thay đổi mực nước ngầm,ô nhiễm không khí, nước, nhiễm mặn các tầng chứa nước  dưới đất, thậm chí có thể làm thiệt hại đến tài nguyên khoáng sản khác (nước, nước khoáng, dầu khí, địa nhiệt...).

Về xã hội, khai thác than sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động kinh tế-xã hội, phong tục tập quán, đời sống và văn hóa của cư dân, người dân mất đất canh tác, phải thay đổi sinh kế, di dân...

Khai thác theo công nghệ khí hóa than ngầm ít tác động hơn tới môi trường, nhưng hiện tại Việt Nam chưa chủ động vận hành công nghệ này, hơn nữa việc kiểm nghiệm tác động của công nghệ này đòi hỏi thời gian dài.

TS Đào Văn Thịnh lưu ý, chỉ khai thác thử nghiệm bể than sông Hồng sau khi đã nghiên cứu kỹ các vấn đề một cách khoa học và khách quan.

Đặc biệt, theo vị chuyên gia, không khai thác bể than sông Hồng nếu điều kiện địa chất mỏ, địa chất thủy văn, địa chất công trình không cho phép và kết quả khai thác thử nghiệm cho thấy tính rủi ro quá cao, hiệu quả kinh tế thấp, nguy cơ cao xảy ra các sự cố môi trường, có tác động xấu tới môi trường và xã hội.

ĐBSH nói chung và bể than sông Hồng nói riêng là khu vực đặc biệt nhạy cảm và dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu toàn cầu và mực nước biển dâng.

Do đó, nếu khai thác bể than sông Hồng cần đặc biệt chú ý đến các điều kiện khí tượng-thủy văn và các yếu tố tài nguyên, xã hội khác nhằm chủ động ứng phó với các sự cố môi trường, tai biến địa chất có nguy cơ xảy ra.

Phục vụ ai?

Cũng cho ý kiến về vấn đề này, GS.TS Vũ Trọng Hồng, Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam lưu ý, 56% ĐBSH nằm dưới mực nước biển 2m, do đó nếu lấy vỉa than đi thì ĐBSH sẽ mất cân bằng, thậm chí mất đi cả vùng đồng bằng này.

Để khai thác than có nhiều phương pháp. Do đặc tính địa chất thủy văn của ĐBSH, phương pháp khai thác hầm lò có thể đưa vào để nghiên cứu. Hạn chế lớn nhất của phương pháp này là cột nước ngầm rất cao,và đất trầm tích bở rời, nên không thể khai thác các vỉa than ở dưới sâu tới hàng nghìn mét.

Cần đánh giá chi tiết địa chất thủy văn của toàn bộ vùng đồng bằng, tìm hiểu thiết bị bơm và phương pháp chống đỡ, để đánh giá tính khả thi của phương pháp này. Cần xem xét lại trữ lượng than  như trong quy hoạch đã nêu là 210 tỷ tấn, hay chỉ có thể khai thác được 30-40 tỷ tấn như đề tài của Tổng hội Địa chất Việt Nam.

Việc khai thác than ở ven biển, đồng nghĩa với những hoạt động khai thác mỏ, nên sự xâm nhập của nước biển sẽ vào sâu đất liền tới hàng trăm cây số. Cả hai tầng chứa nước ngọt chính là Holocen và Pleistocen đều bị nhiễm mặn hoàn toàn. Vùng đồng bằng sẽ trở thành một vùng chết, bởi nước mặn sẽ theo các ống mao dẫn trong đất nổi lên bề mặt. Không chỉ Thái Bình, Nam Định, mà cả Hưng Yên, Hà Nội cùng các tỉnh lân cận của Hà Nội sẽ chịu hậu quả này.

Biện pháp khắc phục đối với vùng bị mặn hóa, theo ông Hồng, chỉ có thể sử dụng nguồn nước của các dòng sông đưa về để hòa loãng. Song chính dòng sông Hồng hiện nay về mùa khô cũng không đủ lưu lượng đẩy mặn, có đoạn chỉ còn độ sâu 10cm nước.

Ở những địa tầng của ĐBSH, đặc biệt vùng ven biển, sự xáo trộn giữa nước mặn và nước ngọt sẽ sinh ra hiện tượng giải phóng các phân tử hóa học trong các hợp chất. Trong nước ngầm những chất di đẩy bao gồm cả chất hữu cơ và vô cơ sẽ lan truyền trong toàn bộ khối nước ngầm. Độ mặn và độ pH sẽ tăng cao, đòi hỏi phải rửa mặn, giảm độ chua của đất, mới có thể trồng lúa được. Chất arsenic cũng tăng cao trong nước ngầm, sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe của con người. Sự cân bằng sinh thái vùng đồng bằng bị phá vỡ nếu tiến hành khai thác than.

Đó là chưa kể những rủi ro khác như bão tạo ra những con sóng lớn mà đỉnh sóng cao tới chục mét, hoặc gặp sóng thần ngoài khơi thì những vỉa than đã được lấy đi, sẽ là đường truyền sóng ngầm vào đất liền, gây ra sự sụp đổ bề mặt đất liền một cách bất ngờ không thể dự báo được.

Từ những phân tích  trên, GS.TS Vũ Trọng Hồng cho rằng, khai thác bể than sông Hồng là một vấn đề lớn, thậm chí ông nghi ngờ việc đặt vấn đề khai thác chỉ để nuôi các công ty khai thác than.

Đừng khai thác bằng mọi giá

PGS.TS Nguyễn Cảnh Nam, Hội KHCN Mỏ Việt Nam khẳng định, việc khai thác bể than sông Hồng với trình độ công nghệ hiện có là hết sức khó khăn, nếu không nói là khó khả thi về kỹ thuật chứ chưa nói khả thi về kinh tế. Việc khai thác bể than này chắc chắn sẽ gây nhiều tác động xấu về môi trường, xã hội.

Trong khi đó, trên cơ sở phân tích các công nghệ khai thác cùng những vấn đề về địa kiện địa chất công trình bể than sông Hồng, GS.TS Tạ Đức Thịnh, Hội Địa chất công trình Việt Nam đề nghị có thể khai thác thử nghiệm bể than sông Hồng bằng công nghệ khí hóa than ngầm ở những vị trí đã thăm dò chi tiết trên nguyên tắc không ảnh hưởng đến cuộc sống, sản xuất của người dân.

Tuy nhiên, trước khi khai thác thử nghiệm phải nghiên cứu chi tiết, kỹ lưỡng điều kiện địa chất công trình, địa chất thủy văn khu vực khai thác và làm rõ hiệu quả kinh tế của việc khai thác. Chỉ sau khi có kết quả khai thác thử nghiệm mới tiếp tục xem xét có nên khai thác bể than sông Hồng hay không.

"Nếu trước mắt chưa đủ điều kiện khai thác thì nguồn tài nguyên quý giá này sẽ được để lại cho các thế hệ mai sau. Trong tương lai, với sự phát triển nhanh chóng về KHKT, chắc chắn sẽ có công nghệ khai thác bể than phù hợp, đảm bảo hiệu quả kinh tế và không gây tác động xấu đến môi trường sinh thái, xã hội vùng ĐBSH. Vì vậy, không nhất thiết phải khai thác bể than sông Hồng bằng mọi giá", GS Thịnh nhấn mạnh.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NT (Theo Đất Việt)

 

  • Thích và chia sẻ bài viết:

Bình luân