Hotline: 0941068156
Quảng cáo
Tin Nóng

Đẩy mạnh phát triển gạch không nung tại Việt Nam

28 Tháng Hai 2019 1:00:00 CH

Moitruong24h - Lợi ích của việc sử dụng vật liệu gạch xây không nung (GKN) là rất lớn. Đó là, tiết kiệm tài nguyên đất sét; tiết kiệm nhiên liệu, tận dụng các nguồn phế thải sẽ giảm ô nhiễm môi trường…Tuy nhiên, để đẩy mạnh phát triển loại vật liệu này tại Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế.

GKN được sản xuất tại một số Nhà máy tại Việt Nam. (Ảnh: TTXVN)

GKN - Giảm khí nhà kính, bảo vệ môi trường, tiết kiệm chi phí

Theo đánh giá của các chuyên gia, ưu điểm nổi bật của vật liệu GKN là giá thành thấp hơn từ 5 đến 10% so với các loại gạch truyền thống. Gạch có tính cách âm, cách nhiệt; trọng lượng gạch nhẹ, giúp giảm chi phí cho kết cấu móng, bộ phận chịu lực, khung dầm, từ đó cho phép hạ thấp giá thành của các công trình. Đặc biệt, sử dụng GKN trong lĩnh vực xây dựng còn tiết kiệm nhiên liệu, năng lượng, giảm khí thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tiết kiệm chi phí, người lao động không phải tiếp xúc trực tiếp với nhiệt độ cao… Điều này không chỉ mở lối cho việc phát triển GKN trong ngành vật liệu xây dựng, thân thiện với môi trường mà còn mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sử dụng.

Để tìm chỗ đứng cho loại vật liệu này, nhiều chính sách đã được ban hành, đặc biệt là việc triển khai dự án “Tăng cường sản xuất và sử dụng gạch không nung ở Việt Nam” do Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Xây dựng cùng triển khai.

Nói về dự án Tăng cường sản xuất và sử dụng GKN, ông Đỗ Giao Tiến - Quản đốc Dự án cho biết, Dự án do Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) tài trợ từ nguồn vốn của Quỹ môi trường toàn cầu (GEF). Dự án được khởi động từ tháng 6/2015, đến nay đã đạt được những kết quả quan trọng.

Dự án có mục tiêu là cắt giảm tỷ lệ tăng hàng năm mức phát thải khí nhà kính bằng cách giảm dần việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch và đất màu để làm gạch thông qua việc tăng cường sản xuất, mua bán và sử dụng GKN ở Việt Nam. Mức phát thải khí nhà kính (KNK) trực tiếp ước tính là 383 ktonnes CO2. Mức giảm phát thải KNK gián tiếp ước tính đạt 13.409 ktonnes CO2 được tích lũy trong vòng 10 năm sau khi dự án kết thúc.

Thông qua việc triển khai dự án, khuôn khổ chính sách, tiêu chuẩn, quy chuẩn phát triển vật liệu xây không nung đã được nghiên cứu, hoàn thiện. Một số chính sách, tiêu chuẩn, quy chuẩn đã được ban hành góp phần từng bước loại bỏ các rào cản, cản trở để đưa GKN được sử dụng rộng rãi trong các công trình xây dựng

Dự án cũng đã thực hiện thành công 3 dự án trình diễn công nghệ sản xuất gạch bê tông tại Hải Phòng, Thái Nguyên, Đà Nẵng; hỗ trợ kỹ thuật thực hiện 18 dự án nhân rộng với công suất thiết kế 700 triệu viên QTC/năm trên phạm vi cả nước, góp phần quan trọng phổ biến công nghệ sản xuất GKN tiên tiến.

Bên cạnh đó, dự án hỗ trợ và tạo điều kiện trên 30 doanh nghiệp chuẩn bị hồ sơ để được vay vốn ưu đãi từ Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam và vốn vay thương mại từ Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam, với tổng kinh phí là 536 tỷ đồng để đầu tư và sản xuất GKN. Hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức trong sản xuất và sử dụng GKN cũng đã được dự án chú trọng thực hiện.

Các kết quả hoạt động của Dự án đã góp phần tích cực vào việc thực hiện thành công Chương trình phát triển vật liệu xây không nung đến năm 2020. Theo báo cáo của Bộ Xây dựng đến năm 2018, tổng công suất các dây chuyền sản xuất vật liệu xây không nung đạt 7 tỷ viên gạch các loại, sản lượng khoảng 6,5 tỷ viên, chiếm 28% tổng lượng gạch xây dựng, góp phần đáng kể vào giảm phát thải KNK của Việt Nam”.

Ước tính, từ tháng 6/2015 đến nay, từ tác động trực tiếp của dự án, lượng giảm phát thải KNK 60.712 tấn CO2, tiết kiệm năng lượng 14.608 TOE; Tác động gián tiếp từ các hoạt động của dự án (chính sách, đào tạo, hội thảo, nhân rộng, demo, cho vay...) giảm phát thải KNK 1.816.590 tấn CO2, tiết kiệm năng lượng 332.690 TOE.

Trong năm 2019, dự án tiếp tục tập trung thực hiện các hoạt động nhằm tăng cường chất lượng GKN như cung cấp tài liệu về quy trình quản lý chất lượng sản phẩm GKN, quy trình dưỡng hộ GKN, xây dựng bài phối liệu tối ưu và sử dụng tro xỉ nhiệt điện làm nguyên liệu. Đặc biệt, dự án xây dựng và thực thiện chiến lược nhằm thúc đẩy thị trường sử dụng GKN.

Để GKN phát triển

Tại cuộc họp Ban chỉ đạo dự án “Tăng cường sản xuất và sử dụng gạch không nung ở Việt Nam”, do Bộ Khoa học và Công nghệ cùng Bộ Xây dựng tổ chức vừa diễn ra tại Hà Nội, các chuyên gia cho biết, trước đây trong xây dựng, gạch đỏ vẫn được sử dụng rộng rãi. Để sản xuất loại gạch này phải dùng tới nhiều loại vật liệu, khoáng sản không tái tạo, nhiên liệu hóa thạch; sản phẩm được nung bằng lò thủ công hoặc lò tuy-nen, thải khí CO2 nên gây hiệu ứng nhà kính; người lao động phải làm việc trong môi trường độc hại. Đặc biệt, nguồn nguyên liệu dùng cho việc sản xuất gạch đỏ đang cạn kiệt do lượng phù sa bồi đắp ở các bãi ven sông không còn nhiều, dẫn đến sự thiếu hụt về nguồn nguyên liệu dùng cho sản xuất.

Để thay thế cho gạch đỏ, hiện nay, việc khuyến khích sử dụng các sản phẩm GKN đã được quy định trong nhiều chính sách. Việc khuyến khích sản xuất, sử dụng GKN đã được quy định trong nhiều chính sách như: Chương trình phát triển vật liệu xây không nung theo Quyết định số 567/QĐ-TTg; Quyết định 1469/QĐ-TTg Quy hoạch tổng thể phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030; Thông tư số 13/2017/TT-BXD quy định sử dụng vật liệu xây không nung trong các công trình xây dựng; Chỉ thị số 10/CT-TTg tăng cường sử dụng vật liệu xây không nung và hạn chế sản xuất, sử dụng gạch đất sét nung…Tuy nhiên, việc phát triển loại gạch này tại Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Quang Hiệp - Phó Vụ trưởng Vụ Vật liệu xây dựng - Bộ Xây dựng cho rằng, nếu muốn đưa GKN ứng dụng rộng rãi vào thực tế thì giá cả phải hấp dẫn và thông tin phải đến người sử dụng một cách đầy đủ. Theo Nghị định số 24a/2016/NĐ-CP quản lý vật liệu xây dựng đã có các ưu đãi đầu tư cho dự án sản xuất vật liệu xây không nung loại nhẹ (khối lượng thể tích không lớn hơn 1.000 kg/m3) có công suất cho một dây chuyền từ 50.000 m3/năm trở lên; dự án sản xuất gạch bê tông (gạch xi măng - cốt liệu) có công suất cho một dây chuyền từ 10 triệu viên quy tiêu chuẩn/năm trở lên.

Bên cạnh đó, còn được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư theo quy định và hỗ trợ đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư; được hỗ trợ chi phí chuyển giao công nghệ đối với các dự án đầu tư có chi phí chuyển giao theo quy định của Luật Chuyển giao công nghệ…

Bàn về giải pháp phát triển GKN tại Việt Nam, PGS.TSKH Bạch Đình Thiên - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và ứng dụng vật liệu xây dựng nhiệt đới, Trường Đại học Xây dựng cho rằng, để GKN mà cụ thể là gạch bê tông đảm bảo chất lượng, chúng cần đảm bảo nguyên liệu: xi măng, cốt liệu, phụ gia khoáng, phụ gia hoá học và nước đảm bảo chất lượng; thành phần phối liệu hợp lý đảm bảo mác thiết kế; quá trình trộn với độ đồng nhất cao; tạo hình trên thiết bị rung ép được lèn chặt tốt; độ đồng đều các viên gạch trong một lần ép cao; được bảo dưỡng trong môi trường ẩm bão hoà đến khi ổn định thể tích.

Hiện nay, có 3 dây chuyền sản xuất gạch bê tông công nghệ tiên tiến, công suất lớn đã đầu tư gồm: Nhà máy gạch bê tông của Công ty Tân Thành 9 Thanh Hoá; Nhà máy gạch bê tông thuộc Công ty Trần Châu, Hà Tĩnh; Nhà máy gạch không nung Đại Dũng Xanh, TP. Hồ Chí Minh. Tại ba nhà máy này mỗi ca sản xuất chỉ từ 3-5 nhân viên. Quy trình công nghệ sản xuất gạch bê tông tại các nhà máy này, đặc biệt là quy trình bảo dưỡng được kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo chất lượng gạch ổn định.

Theo Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Phạm Công Tạc, dự án “Tăng cường sản xuất và sử dụng gạch không nung ở Việt Nam” với 4 hợp phần được “chạy” rất hiệu quả và đã được các chuyên gia UNDP đánh giá tốt. Trong thời gian tới, dự án cần đẩy mạnh và triển khai tốt hơn nữa công tác đào tạo và truyền thông nhằm tăng cường nhận thức về vấn đề này./.

 

 

 

 

 

 

 

AN (Theo ĐCS)

  • Thích và chia sẻ bài viết:

Bình luân