Hotline: 0941068156
Quảng cáo
Tin Nóng

9 năm thực hiện luật thuế tài nguyên: Nhiều quy định mâu thuẫn, kém hiệu lực

06 Tháng Ba 2019 6:33:00 SA

Moitruong24h - Mẫu thuẫn với nhiều quy định pháp luật liên quan đến thuế, như Luật Khoáng sản, Luật Tài nguyên nước và Luật Lâm nghiệp… là điểm bất cập lớn nhất sau 9 năm thực hiện Luật Thuế tài nguyên.

Vướng luật chuyên ngành

Điểm c, Khoản 2, Điều 3, Luật Thuế tài nguyên quy định: “Tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nhỏ, lẻ bán cho tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua”, đây là một trong những quy định chỉ tồn tại trên giấy. Bởi, nếu được thực hiện sẽ gây mâu thuẫn với Luật Khoáng sản, Luật Tài nguyên nước và Luật Lâm nghiệp.

Cụ thể, việc quy định người nộp thuế là cá nhân hoặc tổ chức làm đầu mối thu mua cam kết nộp thuế thay cho bên khai thác là không phù hợp khi đối chiếu với quy định của Luật Khoáng sản, Luật Tài nguyên nước và Luật Lâm nghiệp. Theo các luật này, việc khai thác khoáng sản, lâm sản và tài nguyên nước đều phải được cấp phép hoặc phải tuân thủ những quy định nhất định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Điều đáng nói, đây là quy định của Luật, còn tại Thông tư số 105/2010/TT-BTC hướng dẫn về thuế tài nguyên thì lại quy khác. Cụ thể, tại thông tư này đã hướng dẫn người nộp thuế tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua cho các đối tượng khai thác nhỏ lẻ. Mặc dù đã giải quyết được mâu thuẫn kể trên, Thông tư số 105/2010/TT-BTC lại nảy sinh vướng mắc về quản lý thuế đối với một số trường hợp cụ thể mà pháp luật chưa bao quát hết khi bỏ quy định về người nộp thuế là tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua cho các đối tượng khai thác nhỏ lẻ. Điều này, dẫn đến thất thu thuế trong những trường hợp hộ gia đình, cá nhân khai thác đất làm vật liệu xây dựng trong khuôn viên đất được giao sử dụng ổn định, lâu dài bán cho các đơn vị sản xuất vật liệu xây dựng; hộ gia đình được giao đất, giao rừng được phép khai thác sản phẩm rừng tự nhiên trong phạm vi đất được giao bán ra.

Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, việc luật hóa người nộp thuế thay cho trường hợp khai thác nhỏ, lẻ có thể dẫn đến hiểu sai về đối tượng được phép khai thác khoáng sản, sản phẩm của rừng tự nhiên và nước thiên nhiên.

Chưa đúng bản chất của thuế

Khoản 1, Điều 6, Luật Thuế tài nguyên quy định, đối với tài nguyên khai thác xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng, thì sản lượng tài nguyên tính thuế là số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng của tài nguyên thực tế khai thác trong kỳ tính thuế. Quy định như vậy chưa phản ánh đúng bản chất của việc đánh thuế tài nguyên, xác định sản lượng tài nguyên tính thuế: Sản lượng tài nguyên tính thuế là số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng tài nguyên nguyên thực tế khai thác. Việc tính thuế tài nguyên phải dựa trên giá trị gốc của tài nguyên chưa qua chế biến như thông lệ quốc tế.

Hơn nữa, việc quy định thuế tài nguyên tính trên sản lượng thực tế khai thác do người khai thác tự khai báo đã dẫn đến tình trạng “lấy nạc bỏ xương”. Cụ thể, nhiều doanh nghiệp khi khai thác chỉ sử dụng những tài nguyên có giá trị cao dễ khai thác, không tốn kém chi phí; số tài nguyên còn lại có giá trị thấp hơn không được khai thác triệt để, gây nên tình trạng lãng phí tài nguyên.

Bên cạnh đó, sự thiếu thống nhất trong các quy định pháp luật về giá tính thuế tài nguyên, dẫn đến thiếu tính minh bạch, nhất quán. Chẳng hạn, theo Khoản 1 Điều 6, Thông tư số 152/2015/TT-BTC, giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị tài nguyên chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng và trong mọi trường hợp không được thấp hơn giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh quy định. Nhưng Khoản 1 và 2, Điều 6, Luật Thuế tài nguyên chỉ quy định trong trường hợp không xác định được giá bán thì giá tính thuế tài nguyên mới bị khống chế không thấp hơn giá do UBND cấp tỉnh quy định.

Như vậy, nếu thực hiện theo Thông tư thì chặt chẽ, góp phần chống thất thu nhưng mâu thuẫn với Luật; nếu thực hiện theo Luật thì không chặt chẽ, làm thất thu thuế. Ngoài ra, quy định về giá tính thuế tài nguyên hiện hành chưa dựa trên tài nguyên nguyên khai thác, thể hiện ở việc chưa cho trừ chi phí tinh chế tài nguyên (mới chỉ cho trừ chi phí chế biến phát sinh), đối với tài nguyên xuất khẩu giá tính thuế không cho trừ chi phí vận chuyển đến cảng xuất.

Điều đáng quan tâm, hiện thuế suất chưa tạo động lực cân đối lại việc khai thác tài nguyên tái tạo và tài nguyên không tái tạo. Nhóm tài nguyên không có khả năng tái tạo (như khoáng sản kim loại, một số loại khoáng sản không kim loại) hiện đang có mức trần khung thuế suất thấp hơn nhóm sản phẩm rừng tự nhiên là tài nguyên có khả năng tái tạo. Bên cạnh đó, nước thiên nhiên là loại tài nguyên có vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống xã hội và đang có xu hướng khan hiếm nhưng khung thuế suất hiện hành còn quá thấp, tùy theo mục đích sử dụng nước mà thuế suất từ 1% đến 10%. Trong khi đó, ở nhiều nước trên thế giới, mức thuế suất đối với nước thiên nhiên thường từ 1% đến 15%.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TD (theo daibieunhandan)

  • Thích và chia sẻ bài viết:

Bình luân